You are here: Home TIN NGHỆ THUẬT TƯ VẤN

TÌM HIỂU HỘI HOẠ

Email In PDF.

Tranh của danh họa Braque.

Con mắt biết thưởng thức không là gì khác hơn là cái gu thẩm mỹ, là cái ý niệm của ta về cái đẹp. Đó là  cái lăng kính qua đó ta nhìn nhận được cái đẹp ở ngoại vật, dù cho ngoại vật đó là thiên nhiên, là một tác phẩm của người khác, hay là chính bức hoạ mà ta đang vẽ.

Lần cập nhật cuối ( Thứ sáu, 16 Tháng 7 2010 08:39 ) Đọc thêm...
 
Email In PDF.

Tranh dân gian Đông Hồ "Đám cưới chuột"
 
 
 
Không gian hai chiều đã từng một thời độc tôn trong thế giới mỹ thuật cổ đại và gắn liền với những giá trị nhân văn sâu xa từ trong tiềm thức con người. Bài viết này đưa ra một số phác họa các giá trị văn hóa của không gian hai chiều, mối quan hệ mật thiết với sự phát triển của các cộng đồng, và sự cần thiết của việc bảo tồn thế giới quan dân gian này trong bối cảnh hiện đại.

Lần cập nhật cuối ( Thứ sáu, 16 Tháng 7 2010 08:35 ) Đọc thêm...
 
Email In PDF.

Baudelaire(Pierre Charles) nhà thơ Pháp sinh ra và mất tại Paris
(1821-1867). Ông sống cuộc đời cực kỳ khốn khổ hết mình cho văn học. ÔNg dịch trung thực những tác phẩm của nhà văn và phê bình đương thời của Mỹ là Edga Poe, Baudelaire có những  tác phẩm như: Những vần thơ bằng văn xuôi, khám phá mỹ thuật, nghệ thuật lãng mạn. Tác phẩm làm cho ông sống mãi là Hoa đau khổ (Fleurs du mal) xuất bản năm 1985. Ông là một nhà thơ lớn, đã thổi vào thi đàn nước Pháp một luồng sinh khí mới mẻ lúc bầy giờ. Phong cách của ông hàm xúc về hình ảnh, giàu nhạc tính trong âm điệu và nguồn cảm hứng bắt nguồn sâu sắc từ nghệ thuật tạo hình.


Lần cập nhật cuối ( Thứ sáu, 16 Tháng 7 2010 08:28 ) Đọc thêm...
 
Email In PDF.

     
              

 

P

hong cách được dịch từ tiếng pháp hoặc tiếng anh là “style”, đầu tiên nó có nghĩa là một dụng cụ bén nhọn dùng để khắc lên  những bảng gỗ nhốc phù sáp thay cho trang giấy viết ngày nay của người xưa.

    Từ đó được hiểu một cách trừu tượng như cung cách đặc biệt của một nhà văn, một người hùng biện, một nghệ sỹ trong lúc phát biểu cảm  nghĩ của mình trên tác phẩm hoặc bài diễn thuyết. Mỗi người có một phong cách cũng có nghĩa là tài năng, nghệ thuật, thể hiện tư tưởng một cách sâu sắc qua tác phẩm viết hoặc tạo hình, “người ta chỉ thấy được qua phong cách” (chateaubriand). Phong cách cũng được ngầm hiểu như ngôn ngữ đặc biệt dùng trong  những trường hợp thật đặc biệt. “phong cách cung đình” thành ngữ “có phong cách” có nghĩa thật đặc biệt, thật trang trọng.

    Trong nghệ thuật, phong cách cũng là phương pháp đặc biệt của một nghệ sỹ, của một chủng loại, của một thời đại. Bức tranh có phong cách của đại danh họa nào đó. Vở nhạc kịch có phong cách hoành tráng. Những căn phòng của Phó Vương được trang trí theo phong cách Louis XIV được Đông Phương hóa..

    Trong một diễn văn đọc tại Hàn Lâm Viện, Buffon đã nói “phong cách là con người” (Le style c’est l’ homme) hay “phong cách là chính con người đó” (Le style c’ est l’ homme meme). Buffon cũng đã nói trong một tác phẩm “kiến thức, sự kiện và những phát minh bộc lộ rõ ràng chuyển tải và chiếm lĩnh tác phẩm bởi những bàn tay tài hoa nhất” nhưng phong cách vẫn là tài sản riêng của nhà nghệ sỹ. Với Sén nefque “phong cách là diện mạo của tâm hồn..”phong cách của con người giống như cuộc sống của họ. Tuy nhiên đôi khi phong cách và tính chất của một nhà văn lại không nhất trí. Phong cách cũng là tổng thể các phương thức mà nghệ sỹ sở hữu được từ nhiều nguồn để miêu tả, thể hiện tư tưởng của anh ta. Với nhà văn, nhà thơ có thể là thủ pháp chọn từ không phụ thuộc văn phạm. Với  nhà nghệ sỹ tạo hình nó thể hiện trong bố cục, màu sắc mảng khối..

   Những yếu tố của phong cách rất đa dạng. Trước tiên nó là trạng thái cá nhân của nghệ sỹ

Và loại hình mà anh ta sở hữu, sau đó là trạng thái của ngôn ngữ được giao phó để đạt một trình độ tiến hóa mà trình độ muốn đạt, công chúng chấp nhận, xã hội tán thưởng v.v…

   Từ những khái niệm trên người ta đã cố gắng sắp xếp phong cách thành nhiều lối. Theo Ciceron thì “phong cách đơn giản” là sáng tạo của chính xác những kém màu mè “phong cách ts nhị thì phong phú, sống động”, tiết tấu nhiều hình ảnh và “phong cách vừa phải” là trung gian của hai phong cách đơn giản và tế nhị. “Phong cách bay bướm” từng được xem là loại “phong cách đơn giản”, chỉ khác ở chỗ có nhiều hình ảnh trang trí hơn. Cách sắp xếp phong cách dựa theo loại hình có vẻ chính sác hơn nhưng cũng chỉ trong giới hạn khi định nghĩa loại hình có chính xác hay không. Những cách sắp xếp trên nay không còn được chấp nhận. Ngày  nay người ta quan tâm  nhiều  vào sự nghiên cứu phong cách cá nhân của nghệ sỹ. để hiểu rõ phong cách người ta nghiên cứu phong cách bản thân nghệ sỹ, màu sắc, thư pháp, ngôn ngữ tạo hình mà anh ta sử dụng rất chi tiết và khoa học. Voltaire cho rằng “phong cách chỉ là trật tự và vận động được dựa vào tư tưởng”. Muốn  đưa vào trật tự phải có nội dung đầy đủ và sáng tỏ dành cho hệ thống tư tưởng. Để có sự vận động tư tưởng đồng thời phải chín muồi và thể hiện tố, nghĩa là  được viết được tạo hình hết sức chính xác về ngôn ngữ, nét đẹp của màu sắc, sự sống động của phong cách “những tác phẩm độc đáo là những tác phẩm duy nhất có thể vượt qua muôn đời sau”, bởi vì chỉ có “ phong cách là chính con người vậy”. Đó là tuyên ngôn trạng thái thuần túy trí tuệ đã sản sinh ra nó, ngược lại tư duy nói chung là vô ngã.

        Phong cách theo nghĩa Đông Phương bao hàm dáng vẻ, bộ điệu và cung cách ứng xử. Phần nhận biết phát hiện ở bên ngoài dễ nhận thấy còn phần cảm nhận rất quan trọng có tính trừu tượng không thể thiếu được.

       Trong khi nghiên cứu lịch sử mỹ thuật, phong cách tỏ ra có vai trò rất quan trọng nhưng trong cách định nghĩa thì có rất nhiều nguồn khác nhau, thậm chí có lúc như đối nghịch, có khi phong cách được tham khảo từ những công trình của một giai đoạn lịch sử nhất định. Nó cũng có thể được tham khảo từ nghệ thuật của một quốc gia hoặc nhiều quốc gia, hay nghệ thuật của một vùng trong một quốc gia . Sự hình thành và phát triển đường lối riêng biệt của một nghệ sỹ được gọi là “sự tiến hóa của phong cách” “The evolution of the style”. Thêm nữa phong cách cũng có thể là một tiếp cận kỹ thuật trong sáng tạo nghệ thuật. Từ  “phong cách” cũng được dùng trong phạm vi chấp  nhận, một sự khẳng định trình độ vượt bậc của tác phẩm.

    Để nghiên cứu phong cách trên cơ sở khoa học Edward Burke Feldiman nêu ra bốn điểm cần làm.

1.      Thu hoạch các hệ thống tư tưởng và bình phẩm về nhiều loại tác phẩm nghệ thuật xuất hiện trong nhiều thời đại

2.      tìm hiểu cá nhân nghệ sỹ, giai đoạn lịch sử đất nước hay vùng miền mà một phong cách nghệ thuật nào đó dường như thống trị

3.      so sánh một cách sáng suốt các tác phẩm tiêu biểu quan hệ, và chỉ những tác phẩm tiêu biểu mới là mục tiêu để so sánh và phê phán

4.      Đạt một số ý tưởng quan hệ giữa cung cách làm việc của nghệ sỹ với kết quả cụ thể và phản ứng của chúng ta đối với tác phẩm này cũng như toàn bộ của anh ta

              Sau khi có những hiểu biết về phong cách trong nghệ thuật, chúng ta đã ở trong tư thế thuận lợi để sẵn sàng được gọi là “ngôn ngữ thầm kín” của nghệ thuật. Hứng  thú của phong cách dẫn đường cho chúng ta tìm hiểu ý nghĩa của chủ đề cũng như mục đích toát lên từ tác phẩm nghệ thuật. Giống như chữ viết, một người quan sát có học tập có thể phát hiện, ý nghĩa có thể không ở ngôn từ kiến thức về phong cách, và toát lên phần lớn ở lối suy nghĩ về môi trường xã hội và văn hóa mà tác phẩm đã bén rễ. Nghiên cứu phong cách nghệ thuật – cả quá khứ lẫn hiện tại-một cách chính xác để tập trung trí tuệ và tư tưởng của chúng ta trước sự thay đổi điều kiện sinh hoạt của con người.

    Trong thời đại hiệ nay, cùng một lúc có vô vàn phong cách được sáng tạo trên thế giới này. Một số loại hình phong phú trước kia vẫn tồn tại nhưng hiếm thấy những sự đa dạng tiêu biểu ở một nơi chốn riêng lẻ, điều đó làm cho công chúng khó hiểu về mục đích của nghệ thuật , tiêu chuẩn của nghệ sỹ hoặc tầm cỡ vĩ đại hoặc kém cõi của tác phẩm. Phong  cách tân kỳ đa phần dựa vào sự thay đổi nhanh chóng, và thật khó mà tìm thấy một loại hình tiêu biểu , trong nghệ thuật đương đại, người ta thấy tốt nhất là miêu tả những khuynh hướng hiện đang xuất hiện và hoạt động xen kẻ lẫn nhau. Dù sao những khuynh hướng đó cũng đã diễn biến trong một giai đoạn của lịch sử nghệ thuật. Nếu xưa kia triết học, mỹ học, phân tâm học từng bị xem là những lĩnh vực cao siêu, mơ hồ thì những tiến bộ xã hội học, nhân loại học có thể giúp con người nghiên cứu phân tích phong cách qua sự phát triển kiến thức và mối hỗ tương trong ứng sử và sáng tạo nghệ thuật.

        Như một sản phụ, nghệ sỹ thai nghén và đúng thời điểm sinh nớ ra tác phẩm, phong cách cũng từ đó xuất hiện song song với giá trị cao của tác phẩm. Nhà  nghệ thuật, nhà lịch sử nghệ thuật dùng những phương pháp khoa học như là phương tiện, một loại kính hiển vi để soi vào nghệ sỹ, vào cung cách làm việc , vào ý tưởng và cuối cùng là tác động của tác phẩm đối với môi trường xã hội hiện đại, quá khứ và nếu có thể dự báo về tương lai. Có thể là kỳ quặc nếu một ai đó đặt câu hỏi “tại sao con tằm lại nhả tơ, con nòng nọc lại biến thành ếch nhái hay con chim lại hót v.v…với khả năng bẩm sinh, với sự học tập rèn luyện, tài năng và sự đam mê, nghệ sỹ cho ra đời tác phẩm mà  không thiết kế một phong cách tiên quyết nào.

    Hình ảnh của phong cách được thiết lập qua các tương quan trình tự trong các tác phẩm nghệ thuật. Nhà  nghiên cứu phong cách theo dõi hành  trình của nghệ sỹ để tuyển chọn, chấp nhận, thay đổi hoặc loại bỏ một số yếu tố cơ bản  để cuối cùng tìm ra mối quan hệ nở trội nhất, đó là phong cách của cá nhân họa sỹ qua các tác phẩm. Phong cách chính là vỏ bọc, là bản nhận dạng chống lại mọi sự nhầm lẫn hỗn độn thường có trong hoạt động nghệ thuật.

    Qua tác phẩm, người ta không thể nhầm lẫn được phong cách của Raphael và Bofliceli, Picasso và Matisse, Lê Văn Đệ và Nguyễn Gia Trí, Nguyễn Phan Chánh và Tô Ngọc Vân.

   Các tác phẩm được sáng  tạo từ một nghệ sỹ có chân tài giống như nhữn đứa con cùng cha mẹ. Từng  đứa một, dù trai hay gái có ngoại hình khác nhau thâm chí giống nhau  như những cặp song sinh một huyết thống , phong cách là huyết thống trong tác phẩm của nhà nghệ sỹ.

     Với quá khứ, nghệ sỹ có thể chấp nhận phần nào đó, vứt bỏ những gì không thích, thêm vào đó những gì tâm đắc nhất và quá khứ lại là bệ phóng để hướng về tương lai- không có quá khứ làm sao có tương lai ?

    Phân biệt phong cách này với phong cách khác qua các dị biệt quy ước chất liệu , kỹ thuật như một tổng thể vững chắc . Quá  trình sáng tạo bao hàm sự đóng góp phong cách mới nhưng hành vi sáng tạo thì vẫn ổn định.

     Greco, một hóa sỹ của giữa thế kỷ XVI, đầu thế kỷ XVII có phong cách được xem là tân kỳ đầu tiên “tác phẩm phong cảnh Tolède của ông làm người ta nghĩ đến Cézanne, lối vẻ nhân vật kéo dài hơn tỷ lệ thông thường làm người ta liên tưởng đến Modiliani. Tượng và mặt nạ nữa các bộ lạc Phi Châu đã tồn tại từ xa xưa ít nhất cũng đã vài nghìn năm trở nên với cặp mắt của Picasso, một danh họa của thế kỷ XX.

     Basquiat với hình dạng ma quái, trên nền đen hoặc trắng với những ô gạch hay con chữ vô nghĩa, Georg Baselitz vẽ “chân dung tự họa bị tàn phá” với kích thước hoành tráng và khi trưng bày thì treo ngược đầu hướng về mặt đất. Dù cho cố tình làm cho khác người, dù cho lập dị nhưng họ đã có cái lập dị riêng mình. Như vậy người họ sỹ đương đại có chỗ đứng trong lịch sử mỹ thuật (có thể lâu dài hay ngắn ngủi) vào thời điểm nào đó vẫn có phong cách riêng. Phong cách  cũng chính là bản chứng minh, tờ thông hành để những công dân “tác phẩm lưu hành trong vương quốc nghệ thuật mà không bị nhầm lẫn nguồn gốc.

     Phong cách xuất hiện trên tác phẩm hầu như bản năng-trong thời kỳ kinh tế thị trường, tác phẩm nghệ thuật bị đánh đồng như một món hàng hóa (dù là hàng hóa đặc biệt). giá trị của nó được ghi nhận (một cách thô thiển) bằng tgu hoạch từ đồng đô la do thị trường quyết định. Khi phong cách được “thiết kế” theo “thị hiếu thời đại” đời sống giá trị của nó cũng chỉ tồn tại trong một thời gian như con người thay đổi trang phục. Bởi chỉ nhìn vào lợi nhuận mà không ít tài năng đã đánh mất bản năng trong sáng tạo nghệ thuật – Phong cách mang đậm dấu ấn thời gian, không gian và bản thân nghệ sỹ, trong thời đại toàn cầu hóa các phương tiện thông tin hiện đại bùng nổ, đến mọi hang cùng ngõ hẻm, những chủ trương chính trị kinh tế như “đa dạng hóa” “đa phương hóa”, trong sản xuất dược phẩm có những loại “đa sinh tố”, “đa khoáng chất” thì trong nghệ thuật cũng xuất hiện cụm từ “đa phong cách” làm cho chúng ta phải quan tâm suy nghĩ.

       Qua các thời đại, phong cách nghệ thuật Việt Nam có diện mạo  như thế nào? Lời giải đáp khẩn thiết này mong được các sử gia nghệ thuật, các nhà phê bình, nhất là Hội đồng Nghệ thuật Hội mỹ thuật Việt Nam quan tâm. Riêng đối với cá nhân nghệ sỹ thì phong cách tự nó biểu lộ qua lòng trung thực, phương pháp làm việc, tài năng mẫn cảm trong sáng tạo và sức thuyết phục công chúng được gửi vào tác phẩm.

 

                                                                                                                     ĐẶNG NGỌC TRÂN

 

 

 

 

Lần cập nhật cuối ( Thứ sáu, 16 Tháng 7 2010 08:28 )
 
Email In PDF.

 

TƯ THẾ CẤU TRÚC

K

hoa học vật lý và toán học về cấu trúc ngày nay đã xâm nhập vào lãnh vực văn học nghệ thuật, đánh dấu bằng đơn vị cần thiết , một  cấu trúc không thể trọn vẹn tự nó và không đòi hỏi để dùng được nhờ sự hỗ trợ của những yếu tố xa lạ với nó. Nghiên cứu vận động của ngôn ngữ về sự vận hành do nó tạo ra, trong một thời gian đã cho một hệ thống mà các thành phần hoạt động cái này trên cái kia, mà không có sự can thiệp của một yếu tố từ bên ngoài. Một giai đoạn quan trọng được nhận biết, qua những công trình nhân chủng học  của Levi- Stranss, qua ngôn từ của ông cái có nghĩa cần thiết thăm dò những cấu trúc, nó thừa hưởng từ tín ngưỡng và phong tục các dân tộc gọi là  bán khai…

Phê bình ở thời đại chúng ta không thóat khỏi ảnh hưởng của chủ nghĩa cấu trúc-phương pháp được gọi là đại học hoặc truyền thống không được áp dụng trước khi trình bày tác phẩm, những yếu tố khác từ bên ngoài- người theo chủ nghĩa cấu trúc chối bỏ cách  thông báo thẩm định như thế. Tác phẩm xuất hiện như một hệ thống đóng mà nó cần phát hiện nguyên tắc tổ chức   bằng giải thích thông thái được thay thế bằng diễn văn có những đề xuất đưa ra từ các ngành khác như tâm lý học, phân tâm học, ngôn ngữ học, xã hội học để giúp tháo gỡ những cấu trúc tâm linh hoặc toán học mà tác giả không lường trước được trong sáng tác.

 Gerard Genette đã viết :mọi phân tích trong tác phẩm không xem như nguồn gốc hoặc mẫu hình có thể ngầm hiểu là cấu trúc và phương pháp cấu trúc phải xem xét để giúp cho sự nghiên cứu cố hữu này một hợp lý dễ hiểu thay thế cho loại hợp lý bằng giải thích bị lãng quên bởi sự truy tìm nguyên cớ, chỉ định bằng ngôn từ của quan hệ chứ không phải hệ thống. phân tích luận án không ảnh hưởng tới hoàn thành tức khắc và thử nghiệm một tổng hợp cấu trúc mà các luận điểm khác nhau tạo hợp thành mạng lưới đầy đủ phương hướng vị trí và chức năng trong hệ thống của tác phẩm.

   Để diễn giải mối tương quan một tác phẩm và một cá nhân: làm thế nào có được nếu không tham khảo phần tâm lý học? và tâm lý học có thể nào khác hơn cái mà nhà phê bình đã chọn? nói gọn là tất cả sáng tạo văn nghệ, dù khách quan , dù phân định cũng chỉ là máy móc, không than phiền mà chỉ đòi hỏi sự trung thực của hệ thống.

  Hầu như không thể chủ động sáng tạo mà không thỉnh cầu sự hiện hữu của mối tương quan giữa tác phẩm và những gì khác hơn tác phẩm. từ lâu người ta nghĩ rằng mối tương quan này là nguyên cớ, và tác phẩm là sản phẩm, từ đó những ghi nhận phê bình về nguồn gốc, về truyền thống, về sự ảnh hưởng v.v …sự trình bày tương quan , sáng tạo này dần mất đi sự ủng hộ. ý tưởng sản phẩm dần chiếm chỗ của ý tưởng dấu hiệu, tác phẩm sẽ là dấu hiệu bên ngoài của nó, phê bình lúc này là phân tích ý nghĩa từ đó phát hiện ngôn từ và chủ yếu là ngôn từ thầm kín, cái có nghĩa . ngày nay Lucien Goldmann  đã đưa ra lý luận xa hơn mà người ta gọi là phê bình và ý nghĩa, ít nhất nó cũng ứng dụng vào một sự có nghĩa thuộc lịch sử. đã có một phong trào chung để mở tác phẩm không phhair là tác động nguyên cớ mà là ý nghĩa của một cái có nghĩa.

  Roland Bartheo nhận thấy trong sự chuyển tải từ lịch sử sang tâm lý và cấu trúc một sụ hủy hoại văn nghệ như sự thật nguyên thủy . Hơn nữa, theo ông ta một trong những tính chất của sự phê bình mới này là sự khó khăn phải vận động trong tình trạng không thể kiểm tra được.  Những điều nghiêm trọng nhất của phương pháp này trở thành nghịch lý của chủ nghĩa cấu trúc. Không quan tâm đến bi hay hài mà chỉ chú ý đến kỹ thuật viễn vông như tiểu thuyết. làm thế nào khác hơn khi phần lớn tác phẩm được xem là sản phẩm của vô thức.

 Bề sâu của ý tưởng phát ra thành lời trong hệ quả của những gì được nói và không nhất thiết trong những gì được ẩn dấu  hoặc xuất hiện.

Từ luận đề (Theme) từ lâu được dùng trong nghiên cứu phê bình truyền thống và được Ceri’sy la-Salle bảo vệ năm 1969 không cần đánh dấu các danh mục nghệ sỹ bằng chủ đề mà anh ta đã giải quyết hoặc mối bận  tâm được nhắc lại của một hệ thống ám ảnh có tổ chức . Với Jean- Paul Weber điều đó không thể trỗi dậy từ vô thức của nghệ sỹ, mà có những vùng tiền phản ứng (Prereflexives) hoặc siêu phản ứng  của ý thức.

  Khả năng tưởng tượng của trí tuệ phát triển cho hai loại trục rất  khác nhau. Loại thứ nhất hướng về các mối thích thú với những điều hoành tráng, phong phú, sự kiện bất ngờ. Năng lực tưởng tượng thứ hai đào xới vào cõi sâu thẳm của con người đồng thời chúng tìm đến sự bán khai và vĩnh cửu. nó thống trị thời tiết và lịch sử. trạng thái trong chúng ta và ngoài chúng ta, chúng nảy sinh những hạt mầm, những mầm mống mà dạng thể chôn sâu trong chất liệu. thế đấy, chúng ta tưởng có thể xác định sự ngự trị của tưởng tượng một luật vận hành của bốn yếu tố có thể quan hệ đến lửa, nước,khí và đất ( hỏa, khí , thủy, thổ). Với phương đông là kim, mộc, thủy, hỏa, thổ (ngũ hành). Thật thế, mọi sáng tạo văn học nghệ thuật đều tiếp nhận những thành tố- dù rất ít đi nữa – bản thể của vật chất, cách sắp xếp theo các yếu tố vật chất cơ bản còn quen thuộc mạnh mẽ, những tâm hồn văn nghệ, giấc mơ theo đuổi lâu dài để cho ra một tác phẩm bởi nó không thể đơn giản và sự trống trải của những giây phút lang thang, nó cần phải tìm chất liệu mà phải là chất liệu có thể  cho nghệ sỹ  tố chất riêng, quy luật riêng và tác phẩm đặc biệt, không phải vô cớ mà các triết gia đầu tay dùng cách này để có sự lựa chọn dứt khoát.

 Với Bachelard, chính hình ảnh rất cần thiết cho cấu trúc, nhưng luôn luôn là hình ảnh được phóng rời, ông nói cần phải thêm vào tính hệ thống trong nghiên cứu hình ảnh đặc biệt của sự vận động, sự sinh sản và sự sống của nó. Nhưng ông muốn hình ảnh phải mở ngõ trước  khi tác phẩm được chú ý và được đóng góp. Ngày nay,anh thưởng thức tác phẩm của tôi và tôi sẽ sống trong anh phê bình là thưởng lãm, và thưởng lãm là năng lực đi vào giấc mơ sáng tạo vào ý chí của nghệ sỹ, giống như biến bàn tay vào thân thể một kẻ khác( công thức của Paul Eluard).

 Nếu công việc hiện tại có thể dùng làm cơ sở vật lý  hay hóa học của mộng mơ, nó cần được chuẩn bị những công cụ cho cách phê bình khách quan trong nghĩa chính xác nhất của nó. Những ẩn dụ không xuất phát từ những khái niệm đơn giản, tương tự như hỏa tiễn để bùng nổ lên bầu trời vô nghĩa mà ngược lại những ẩn dụ đó phải gọi nhau và liên kết với nhau đầy xúc cảm để ý tưởng nghệ thuật trở nên thuần túy và đơn giản.

Ở mọi mức độ, ngay cả khi ý thức theo đuổi cùng một dự án, muốn tìm lại  những đường nét chính xác của sự phát triển, đó là những nguyên tắc song song của tổ chức. chúng ta tin rằng, phê bình đồng thời có thể vừa đóng kín, vừa là một nghệ thuật tổng hợp, phân tích để  phát hiện bằng cách tập hợp. để làm được như thế, không cần tiên đoán, mà trước hết phải bằng giả thiết, không đạt trước tác phẩm tấm lưới cố định, cần phải thâm nhập vào đối tượng một cách thoải mái để tìm hiểu. tóm lại cần thiết lập giữa các tác phẩm đặc biệt tất cả những  ghi nhận thật nghiêm túc xúc động, trừu tượng, quý báu, trũ tình, thẩm mỹ, có ý thức và bay bướm của tác phẩm đó. Những mối tương quan của chúng bắt buộc phải được soi sáng. Nghệ thuật phải giải thích đượcý nghĩa huyền bí của sự sống. Nghệ thuật đánh thức hiện tại, ở đó tồn tại sự hòa hợp và ý nghĩa. Đó là những hòa hợp trừu tượng mà Mallarme gọi là mẫu mực, diện mạo, hình ảnh bắt gặp chằng chịt đằng sau mọi sự cố nhạy cảm.

    Sartre vay mượn ở phân tâm học danh từ và một biểu đồ, sự lặp lại của những giấc mơ, những thái độ, những hành động như những sự kiện cố định  hay thương tổn nguyên thủy nắm vai trò số mệnh. Cách suy nghĩ theo phân tâm học muốn tránh những sự nhầm lẫn đó. Muốn tìm hiểu chúng, thiết tưởng cần khai phá độ sâu ẩn dấu trong vô thức. muốn đạt được mục đích cần phải có một kỹ thuật và khoa học đặc biệt để hướng dẫn.

  Mặc dù chúng  ta thấy sảng khoái được ngụp lặn trong chiều sâu của tác phẩm nhưng chúng ta buộc lòng phải giữ một khoảng cách để có thể nói về nó. Tại sao chúng ta không thiết lập một quãng cách để có cái nhìn toàn cảnh về tác phẩm. những miền phụ cận mà tác phẩm có mối quan hệ hữu cơ mật thiết? khả năng thứ hai của phê bình là có thể định nghĩa với cách nhìn dây dọi (regard surplombant) ngay khi bắt buộc đặt để tác phẩm vào các mối tương quan lịch sử của nó, chỉ có một quyết định trung gian cho phép giới hạn sự thẩm tra.

 Phê bình đầy đủ không chỉ nhắm vào tổng thể (cách nhìn dây dọi) cũng không hầu như chỉ tập trung vào nội tại như xác nhận của trực giác mà là cách nhìn biết luân chuyển liên tục từ dây dọi và một nội tại trong một vận động không mệt mỏi. từ quan điểm này, phê bình muốn quy định tập dượt cách nhìn riêng biệt của nó. Tốt nhất trong nhiều trường hợp hãy quên đi chính mình để dành cho một bbaats ngờ. để tặng thưởng tác phẩm sẽ hướng về bạn  một cái nhìn hỏi han thân mật

                                                                                       ĐẶNG NGỌC TRÂN

 

Lần cập nhật cuối ( Thứ sáu, 16 Tháng 7 2010 08:29 )
 
Email In PDF.

Mỹ thuật hiểu nôm na là "nghệ thuật của cái đẹp" ("mỹ", theo tiếng Hán-Việt, nghĩa là "đẹp"). Đây là từ dùng để chỉ các loại nghệ thuật tạo hình chủ yếu là hội hoạ, đồ hoạ, điêu khắc, kiến trúc.

Lần cập nhật cuối ( Thứ sáu, 28 Tháng 5 2010 09:19 ) Đọc thêm...
 
Email In PDF.

Những nhà bán đấu giá danh tiếng và các hội chợ mỹ thuật luôn tỏ vẻ bất cần, nhưng họ cũng không thể giấu được sự thật là sức bán tụt dốc thê thảm sau vài năm mỹ thuật phát triển nở rộ.

Lần cập nhật cuối ( Thứ năm, 06 Tháng 8 2009 21:43 ) Đọc thêm...
 
Trang 1 của 2

SỰ KIỆN





Quảng cáo



Xem hình Postcards - Bản Đồ - Tranh lưu niệm
Mọi chi tiết vui lòng liên hệ:
Ms.Hà - 0975377107 - Email: lethiha1983@gmail.com
( Vui lòng liên hệ vào giờ hành chánh)

Nghệ sỹ với giải thưởng


PHÒNG TRANH

Đồng Hồ

THỐNG KÊ

Các thành viên : 4
Content : 1545
Liên kết web : 6
Số lần xem bài viết : 189896

KHÁCH ĐANG TRỰC TUYẾN

Hiện có 38 khách Trực tuyến